TRƯỜNG MẦM NON HẢI THÀNH -QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Tên đơn vị: Trường Mầm non Hải Thành

Địa chỉ: Xã Hải Thành, huyện Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị.

Điện thoại:

Website:

Email: mnhaithanhhlqt@quangtri.edu.vn

LỜI GIỚI THIỆU

Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị nói riêng, cùng với nhân dân trong huyện, nhân dân xã Hải Thành vừa phải thường xuyên khắc phục sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên để sinh tồn, vừa phải liên tục đấu tranh chống lại các thế lực áp bức, xâm lược. Ý chí kiên cường, bất khuất đó tiếp tục được phát huy mạnh mẽ qua các thời kỳ cách mạng dưới ngọn cờ chiến đấu vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ các cấp, nhân dân xã Hải Thành đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần cùng với nhân dân trong huyện và cả nước làm nên thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đến là những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là sự nghiệp đổi mới đất nước, quê hương hiện nay.

Để ghi lại truyền thống vẻ vang của lịch sử xã nhà, qua đó, đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu cho công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Hải Thành phối hợp với các giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế biên soạn và xuất bản cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Hải Thành (1930 - 2010).

Trong quá trình thu thập tư liệu, nghiên cứu biên soạn, Ban Biên soạn và Ban Chỉ đạo đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Ban Thường vụ Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, huyện Hải Lăng và các đồng chí lão thành cách mạng qua các thời kỳ cũng như sự chia sẻ, góp ý của các đồng nghiệp về mặt phương pháp nghiên cứu. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ đạo và giúp đỡ quý báu đó của quý cơ quan và các đồng chí, đồng nghiệp.

Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng tái hiện bức tranh hùng tráng và chân thật của lịch sử Đảng bộ xã nhà nhưng vì điều kiện khách quan cũng như chủ quan, chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, Ban Biên soạn và Ban Chấp hành Đảng bộ xã Hải Thành mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí và bạn đọc để cuốn sách trong lần tái bản sẽ hoàn chỉnh hơn.

Hải Thành, tháng 11 năm 2012

PHẦN MỞ ĐẦU

KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA HẢI THÀNH

 

1 . ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Hải Thành là xã trung tâm thuộc vùng trũng của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cách thị trấn Hải Lăng khoảng 5 km về phía Đông. Phía Bắc giáp xã hải Quế, phía Nam giáp xã Hải Hòa Tân, phía Đông giáp xã Hải Dương, phía Tây và Tây Bắc giáp xã Hải Thọ và xã Hải Thiện.

Về địa hình, Hải Thành thuộc vùng đồng bằng thấp trũng, nằm giữa hai con sông là Cựu Vĩnh Định và một nhánh của sông Ô Lâu. Theo số liệu thống kê năm 2006, diện tích tự nhiên của toàn xã là 543,4 ha, trong đó đất nông nghiệp: 404,6 ha, đất phi nông nghiệp: 111,7 ha, chiếm 20,5%; đất hoang hóa chưa sử dụng: 15,1 ha, chiếm 2,7 %[1].

Về cơ sở hạ tầng, giao thông, những năm trước thế kỷ XXI, cũng trong tình trạng khó khăn chung của cả nước, cơ sở hạ tầng và giao thông của Hải Thành rất khó khăn. Khi giao thông thủy còn khá phổ biến, hai con sông Cựu Vĩnh Định và Ô Lâu chính là hệ thống giao thông thủy thuận lợi cho nhân dân trong đi lại cũng như phát triển kinh tế. Còn giao thông đường bộ, so với các địa phương khác của Hải Lăng, giao thông đường bộ của Hải Thành không mấy thuận tiện. Trên địa bàn xã không có hệ thống giao thông lớn chạy qua, chỉ có Tỉnh lộ 68 từ Diên Sanh về Hải An chạy qua cạnh xã. Trong những năm gần đây, bằng nguồn ngân sách Nhà nước cấp cùng với sự đóng góp của nhân dân hệ thông giao thông, nói riêng, cơ sở hạ tầng nói chung đã được cải thiện nhiều. Đó là hệ thông giao thông liên thôn đã được bê tông hóa kiên cố, hệ thống cầu cống, thủy lợi, trường học, trạm y tế, đặc biệt là nước sạch…. đã, đang được tăng cường đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng.

Hải Thành nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của duyên hải Trung Trung bộ. Theo Dương Văn An – nhà nghiên cứu nổi tiếng thời phong kiến Việt Nam, thời tiết Hải Lăng nói chung và Hải Thành nói riêng là “vào mùa xuân, mùa hạ thường nắng, mùa thu, mùa đông thường mưa. Về khí hậu, rét ít, ấm nhiều, có nhiều bão lớn”[2]. Cụ thể, Hải Thành là xã thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ chênh lệch tương đối cao, từ 10 – 20°C vào mùa đông, 35 – 40°C vào mùa hè; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24 - 25°C. Trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 9 năm trước kéo dài đến tháng 3 năm sau, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8. Hơn nữa, do nằm gần biển và là vùng trũng nên Hải Thành là “tuyến đầu” hứng chịu nhiều bão lớn và là “lòng chảo” nên cũng phải chịu thiệt hại nhiều nhất mỗi khi mùa mưa lũ đến.

Do đặc thù của điều kiện tự nhiên quy định, hệ động vật, thực vật trên cạn của Hải Thành tương đối nghèo nàn, chủ yếu do con người thuần chủng, lai tạo, nuôi trồng. Bù đắp lại, với lợi thế có hai con sông lớn chảy qua và đồng ruộng thấp trũng nên hàng năm thiên nhiên đã mang lại cho Hải Thành lượng thủy sản – cá nước ngọt khá dồi dào.

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên đã gây khó khăn rất lớn cho Hải Thành nhưng ngược lại, chính với hệ thống sông, hói, vùng đất thấp trũng… cũng đã góp phần rất lớn cho địa phương trong phát triển kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi. Nhất là hai con sông hàng năm đã cung cấp nguồn nước, thủy sản phục vụ đời sống của nhân dân và phù sa cho đồng ruộng.

2. DÂN CƯ, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG

Dân cư của Hải Thành được phân bố trong 3 thôn, gồm: Trung Đơn, Kim Sanh và Phước Điền. Dân cư được phân bố khá đồng đều giữa các thôn. Dân số và lao động, theo thống kê, tính đến ngày 31/12/2010, tổng dân số của toàn xã là 2.529 người, với 546 hộ, trong đó có 1.111 lao động trong độ tuổi, 533 lao động nữ, đa số lao động nam trong các ngành ngư nghiệp, nông nghiệp, một số ít lao động trong các ngành nghề dịch vụ khác, mật độ dân số là 387 người/km2. Hải Thành là vùng đất hiếu học, đã có rất nhiều người con của Hải Thành đỗ đạt, thành danh trên rất nhiều lĩnh vực ở trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cũng nằm trong xu thế chung, hiện nay đa số lao động của xã là lao động phổ thông, trong khi nhu cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật ngày càng cao, đặt ra nhiều vấn đề bức xúc trong việc đào tạo nguồn nhân lực.

 

3. QUÁ TRÌNH KHAI HOANG LẬP LÀNG VÀ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

1. Quá trình khai hoang lập làng

Về thời gian và quá trình ra đời của làng xã ở Hải Thành nói riêng, các tỉnh Nam Trung bộ nói chung, muộn hơn so với các tỉnh Bắc bộ. Quá trình ra đời của làng xã người Việt vùng đồng bằng ở các tỉnh Bình – Trị - Thiên được đánh dấu từ sự kiện năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả con gái là Công chúa Huyền Trân cho vua Chămpa là Chế Mân với sính lễ mang màu sắc chính trị là vua Chế Mân nhường hai châu là châu Ô và châu Rí[3] cho Đại Việt[4] và sự kiện năm 1558, khi nhà Lê cho Thái úy Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (vùng đất Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay). Kể từ hai sự kiện đó cùng với quá trình di cư là sự ra đời làng, xóm mới của người Việt ở vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn.

Do sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự tàn phá khốc liệt của những cuộc chiến tranh liên miên… việc nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung và ở Quảng Trị nói riêng gặp không ít khó khăn, nhất là nguồn tư liệu lưu lại hầu như không còn nhiều nên việc xác định thời điểm ra đời, quá trình phát triển của mỗi làng đang là một trở ngại rất lớn trong việc nghiên cứu vùng đất này. Hải Thành cũng không phải là một ngoại lệ. Mặc dầu vậy, bằng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, kết hợp với phương pháp liên ngành và trên cơ sở tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu ít ỏi về vùng đất này, quá trình người Việt đến vùng đất Hải Thành ngày nay khai hoang, lập làng. Hiện nay, xã Hải Thành gồm 3 làng là: Trung Đơn, Phước Điền và làng Kim Sanh.

- Làng Trung Đơn: Đây là ngôi làng có diện tích lớn nhất các làng trong xã, với 376 ha/543,4 ha tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã Hải Thành. Về quá trình con người đến đây khai hoang, theo gia phả của một số họ khai canh, khai khẩn trong làng cũng như tài liệu khảo cổ, di tích còn sót lại, trước khi người Việt đến đây, người Chăm đã sinh sống ở đây khá lâu. Minh chứng cho điều này, là đến nay trên Đồi Tháp vẫn còn sót lại một số gạch vữa… của tháp Chăm xưa.

Về quá trình người Việt đến Trung Đơn, theo gia phả của các họ cho biết, họ Trần là họ khai khẩn và bốn họ Hồ, Phan, Hoàng, Lý khai canh. Đó là vào cuối năm 1431, khi cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng bị quân Minh đàn áp, Trần Duy Ninh và Trần Duy Hoành đã đến đất Trung Đơn khai hoang, lập làng. Tuy nhiên, do điều kiện sinh sống, Trần Duy Hoành chuyển đến làng Câu Nhi lập nghiệp còn Trần Duy Ninh ở lại nhưng không có thế hệ nối tiếp nên làng lập miếu thờ Ngài tại xóm Cồn thôn Trung Đơn. Tiếp sau họ Trần là tổ tiên, con cháu các họ Hồ, Phan, Hoàng, Lý đã lần lượt đến đây vỡ đất, lập làng, xây dựng cơ nghiệp lâu bền. Vào các thế kỷ tiếp sau đó, tổ tiên, con cháu các họ như họ Lê, Nguyễn, Đỗ, Phạm, Đoàn, Trương… cũng chọn Trung Đơn làm đất sinh cơ, lập nghiệp[5].

- Làng Phước Điền: So với làng Trung Đơn và làng Kim Sanh, địa thế của làng Phước Điền thấp trũng hơn nhiều. Diện tích tự nhiên là 157 ha. Về quá trình dân cư đến đây khai hoang, lập làng đến nay tài liệu để lại hầu như không có. Tuy nhiên, theo các bậc cao niên trong làng cho biết xưa nay con cháu của 7 họ là Dương, Vương, Ngô, Huỳnh, Lữ, Tịnh và Phạm đã sinh sống ở đây khá nhiều đời. Theo gia phả của họ Dương, Thỉ tổ của họ là ngài Dương Văn Thạch cùng 3 người em từ ngoài Bắc vào Phước Điền và một số làng lân cận lập quê mới nhưng không rõ thời gian nào. Đến nay, họ Dương đã trải qua 15 đời ở làng Phước Điền. Đến Phước Điền cùng với Thỉ tổ họ Dương là Thỉ tổ họ Vương, ngài Vương Khánh Diễn. Tổ tiên họ Vương đến nay cũng đã trải qua 15 đời. Không bao lâu sau tổ tiên của họ Vương và họ Dương, tổ tiên của họ Ngô cũng đến Phước Điền cùng sinh sống và lập nghiệp. Vài thế kỷ sau đó, tổ tiên con cháu của các họ Huỳnh, Lữ, Tịnh, Phạm và muộn hơn là Nguyễn, Lê, Võ… cũng đến vùng đất này tạo dựng cơ nghiệp. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà đến nay con cháu của các họ Lữ, Tịnh và Phạm không còn sinh sống ở làng Phước Điền nữa[6].

- Làng Kim Sanh: Hay còn gọi là phường Xăm Cựu Vĩnh Định. Sở dĩ có tên gọi như vậy, là vì trước đây Kim Sanh được tách ra từ phường Xăm Cựu Vĩnh Định thuộc làng Kim Long của xã Hải Quế. Chính tên gọi này đã phản ánh được nghề nghiệp truyền thống của cư dân nơi đây xưa nay. Đây là ngôi làng nhỏ nằm bên bờ sông Cựu Vĩnh Định. Cư dân của làng là những người theo nghề xăm, đánh bắt tôm cá trên sông Cựu Vĩnh Định và một số con sông khác đến đây tụ cư và dân dần con cháu của họ đông đúc lên thành phường. Đến nay, làng Kim Sanh gồm có con cháu các họ Ngô, Lê, Nguyễn sinh sống và đã trải qua 8 – 10 đời. So với làng Trung Đơn (376 ha), diện tích của làng Kim Sanh khá nhỏ (10,45 ha) dân số cũng rất ít. Nếu như cư dân của làng Trung Đơn và làng Phước Điền xưa nay chủ yếu gắn với nghề nông, cư dân của Kim Sanh chủ yếu theo nghề đánh bắt tôm, cá trên sông và đan chài lưới. Ngoài ra, các hộ ở đây cũng có một ít ruộng để canh tác nhằm tự túc nguồn lương thực. Bởi vậy, người dân nơi đây mới có câu “chồng thợ, vợ nông”. Có nghĩa là người chồng – đàn ông trong gia đình quanh năm là người “thợ” đánh bắt cá trên sông và đan chài lưới, còn người vợ - phụ nữ trong gia đình chủ yếu lo công việc đồng áng, trồng trọt, chăn nuôi[7].

2. Quá trình thay đổi địa giới hành chính

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các thôn của xã Hải Thành ngày nay đều là đơn vị hành chính trực thuộc huyện Hải Lăng.

Tháng 6/1946, sau khi thành lập 14 xã của huyện Hải Lăng, xã Hải Minh gồm có Trung Đơn và Phước Điền. Đến giữa năm 1949, xã Hải Minh nhập với xã Hải Trình và đổi tên là xã Hải Triều.

Đến tháng 7/1950, thực hiện chủ trương hợp nhất các xã nhỏ, Trung Đơn và Phước Điền cùng với các thôn C u Hoan, Diên Sanh, Tân Diên, Diên Trường, Trường Sanh, Hà Lộc, Tân Trường, Trường Thọ, Trường Xuân, Trường Mỹ và Như Sơn thuộc xã Hải Định.

Đến ngày 17/5/1958, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định 213, theo Nghị định này, huyện Hải Lăng có 22 xã, tên gọi xã Hải Thành có từ đây với 03 thôn: Trung Đơn, Phước Điền và Kim Sanh. Địa giới quản lý hành chính của xã Hải Thành được duy trì cho đến ngày nay.

4. ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA – XÃ HỘI

1. Hoạt động kinh tế

Hải Thành là xã thuộc đồng bằng vùng trũng của huyện Hải Lăng nên bao đời nay người dân nơi đây đã chọn nông nghiệp, nhất là trồng lúa nước làm hoạt động kinh tế chính. Trước đây, khi khoa học - kỹ thuật chưa phát triển, nhân dân còn bị động trước các yếu tố thiên nhiên như: lũ lụt, hạn hán, sâu bọ, nguồn nước… nên hàng năm, nhân dân chỉ trồng được một vụ lúa với năng suất không cao. Trong những thập niên gần đây, với sự ứng dụng thành quả của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, khả năng ứng phó với tự nhiên ngày càng có sự chủ động hơn, năng suất và chất lượng trong trồng trọt ngày càng cao. Mặc dù, thiên nhiên khá khắc nghiệt và không mấy ưu đãi, nhưng với truyền thống “đồng cam cộng khổ” và sáng tạo, “trong cái khó ló cái khôn”, người dân Hải Thành đã tận dụng diện tích vườn hay những vùng đất không thuận lợi cho trồng lúa để trồng các loại hoa màu, cây lương thực ngắn ngày như: đậu, đỗ, lạc, ớt, các loại rau… hay những diện tích thấp, không thể trồng lúa được nhân dân đã sử dụng để trồng sen hoặc nuôi cá. Bên cạnh đó, nhằm tranh thủ thời gian nhàn rỗi và tận dụng nguồn sản phẩm dư thừa cũng như hỗ trợ cho trồng trọt, người dân Hải Thành còn phát triển một số hoạt động kinh tế khác như chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, đan lát…

Nhìn chung, hoạt động kinh tế truyền thống của Hải Thành được gắn với điều kiện tự nhiên của mỗi làng. Nếu hoạt động kinh tế của cư dân làng Trung Đơn và làng Phước Điền gắn với nông nghiệp là chính thì cư dân làng Kim Sanh là những người gắn với hoạt động đánh bắt tôm, cá trên sông nước. Đánh bắt cá của họ không chỉ trên sông Cựu Vĩnh Định mà tùy theo mùa họ có thể đi ra Cửa Việt, Cửa Tùng hoặc vào Phú Vang (Thừa Thiên Huế)… để đánh bắt. Sản phẩm của họ không chỉ phục vụ nhu cầu gia đình hay trong vùng mà còn có thể phục vụ nhân dân ở những vùng xa hơn của huyện Hải Lăng. Đây cũng chính là hoạt động góp phần làm phong phú kinh tế của địa phương cũng như cung cấp nguồn thực phẩm lớn cho cả vùng.

Trong những năm gần đây, với sự phát triển của kinh tế thị trường, của công nghiệp, ở Hải Thành đã xuất hiện thêm một số ngành nghề mới như: xây dựng, cơ khí nhỏ, gò, hàn… Tuy nhiên, so với những địa phương khác, hoạt động kinh tế của Hải Thành vẫn chủ yếu là thuần nông, các ngành nghề khác chưa có điều kiện phát triển mạnh. Để chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng đa dạng hóa loại hình, sản phẩm phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương là vấn đề đang được Đảng và chính quyền địa phương quan tâm hiện nay.

Nếu như trồng lúa và các loại hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày cung cấp nguồn lương thực thì chính các hoạt động như nuôi heo, gà, vịt, đẽo cày, đan sàng… đã giúp cho nhân dân trong vùng chủ động về các nhu yếu phẩm cho cuộc sống. Như vậy, cùng với trồng trọt, chăn nuôi và tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ… đã góp phần hình thành và bảo tồn nền kinh tế khép kín tự cung tự cấp hàng trăm năm nay của Hải Thành nói riêng và làng quê nông nghiệp Việt Nam nói chung. Lịch sử đã cho thấy, nền kinh tế này đã góp phần rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc nhưng ngược lại nó cũng có những hạn chế cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Quan hệ xã hội và đời sống văn hóa

2.1. Quan hệ xã hội

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ cấu xã hội của Hải Thành đã phân thành những giai tầng, đẳng cấp, ngôi thứ khác nhau về thành phần xuất thân, địa vị kinh tế cũng như địa vị chính trị - xã hội.

Về giai tầng, nông dân và địa chủ là hai giai cấp chính, có những đối kháng về lợi ích và trong nhiều thời kỳ, sự phân hoá giai cấp ở đây diễn ra khá sâu sắc nhưng do quan hệ huyết thống hoặc cùng hội, cùng phường nên mâu thuẫn địa chủ - tá điền có khi rất khó nhận biết và do vậy các cuộc xung đột và đấu tranh giai cấp rất ít khi diễn ra công khai, gay gắt.

Về đẳng cấp, ngôi thứ, nhìn chung, cư dân được phân thành các hạng: chức sắc, chức dịch, khoá sinh, lão hạng, dân đinh và hạng trầu (chưa đến tuổi lên đinh). Ba hạng trên căn cứ vào phẩm hàm, chức tước, bằng cấp còn ba hạng dưới lại căn cứ vào tuổi tác. Mặt khác, làng cũng có sự phân biệt giữa dân chính cư và dân ngụ cư.

Cũng như bao làng quê khác của Việt Nam, ở Trung Đơn, quan hệ họ hàng cũng được xem trọng và tồn tại lâu dài. Thể hiện qua việc xây dựng nhà thờ họ, việc giáo dục con cháu “uống nước nhớ nguồn”. Nhất là sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống giữa những người cùng họ. Mặt khác, tuy có những va vấp, xung đột nhất định, nhưng để sống trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệp, chiến tranh liên miên các họ ở Hải Thành luôn giữ mối đoàn kết trên tinh thần cộng đồng khá chặt chẽ.

Trong nền kinh tế sản xuất tiểu nông và tái sản xuất giản đơn, gia đình là một đơn vị kinh tế cơ bản. Trong điều kiện thiếu ruộng đất, nông cụ và nhiều phương tiện khác, mỗi gia đình ở Hải Thành đều cố tạo ra một vòng kinh tế tự cấp, tự túc. Trong lao động, có sự phân công khá rõ ràng về giới tính, tuổi tác, sức khoẻ và mọi thành viên trong gia đình đều phải có trách nhiệm trong vấn đề mưu sinh, trong đó người đàn ông - chủ gia đình đóng vai trò trụ cột. Giữa các gia đình cùng máu mủ hoặc không cũng có sự tương trợ lẫn nhau trong lao động sản xuất, nhất là khi công việc đồng áng bận rộn. Kinh tế tiểu nông vì vậy có tác dụng củng cố quan hệ huyết thống cũng như quan hệ láng giềng. Khi gặp tai biến, nó có thể chịu đựng khó khăn và sớm phục hồi. Nhưng mặt khác, nó trói buộc người nông dân khiến cho họ mãi mãi yên phận sau luỹ tre làng trong một cơ chế vận hành trì trệ và chậm chạp.

Do sống trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, con người nơi đây đã phải sống nương tựa vào nhau. Từ đó, quan hệ dòng họ, quan hệ làng xóm, láng giềng là những quan hệ không thể thiếu trong cuộc sống. Ngoài ra, một quan hệ xã hội khác mà cũng phải kể đến, đó là quan hệ “chủ - thợ” của cư dân “thủy diện”. Hoạt động đánh bắt cá của cư dân làng Kim Sanh là hoạt động truyền thống và chuyên nghiệp. Do vậy, có một số hộ có điều kiện phát triển lưới, ngư cụ nhưng gia đình không thể đủ lao động để đánh bắt nên họ phải gọi thêm thợ bạn. Quy mô của quan hệ này mặc dù không lớn nhưng đây cũng là một quan hệ xã hội rất có ý nghĩa trong đời sống kinh tế cũng như văn hóa của địa phương. Chính những quan hệ này đã giúp người dân bao đời nay đã vượt qua được sự khắc nghiệt của thiên nhiên và hiểm họa giặc ngoại xâm để tồn tại và xây dựng cuộc sống ngày càng đẹp hơn.

2.2. Đời sống văn hoá

Đời sống tinh thần là một yếu tố không thể thiếu đối với con người và là một yếu tố quan trọng của văn hóa làng xã nông nghiệp. Nó không chỉ mang lại hoạt động tinh thần, tình cảm mà nó còn có vai trò quan trong nhằm hỗ trợ cho kinh tế phát triển. Ở Hải Thành khi cư dân từ nhiều vùng, miền khác đến đây quần cư, lập làng, phát triển kinh tế, họ đã mang theo những giá trị văn hóa… của nơi họ ra đi và trải qua nhiều thế hệ, các yếu tố văn hóa đó đã dần dần được bổ sung, phát triển thêm.

Văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể là những sản phẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động. Quá trình này, theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu sẽ sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang tính xã hội. Mặt khác, nó là một tổng hợp chính những giá trị đã vật thể hoá hoạt động sáng tạo của con người.

Văn hoá vật chất bao gồm những phương tiện, dụng cụ phục vụ cho nhu cầu ăn, ở, đi lại của con người, những công trình công cộng, các di tích lịch sử - văn hoá...

Công thức phổ biến của một bữa ăn hàng ngày trong một gia đình trung đơn là cơm (độn hoa màu) cộng dưa... và cơm (xôi) cộng ra dưa, thịt cá... khi gia đình có việc (kỵ, giỗ... ). Ngoại trừ một số gia đình khá giả trong làng, hầu hết dân làng đều có bữa ăn đạm bạc, nghèo chất dinh dưỡng. Về trang phục, ngày xưa người dân Hải Thành thường mặc vải thô có nhuộm màu. Khi có việc quan trọng của làng, dòng họ và gia đình, mới có lễ lượt gồm áo dài trắng, đen xanh, quần trắng, khăn nhiễu, ô... Nhiều người nhuộm răng đen hạt huyền và biết ăn trầu hoặc hút thuốc lá vấn. Về nhà cửa, xưa kia hầu hết nhà ở Hải Thành đều lợp tranh và vách đất, chỉ khác loại cột gỗ tốt hay xấu. Về sau một số gia đình khá giả đã lợp ngói xây tường với bộ khung gỗ tốt được chạm trỗ công phu. Nhà thường có ba gian hai chái với các chức năng khác nhau.

Hải Thành là nơi có khá nhiều di tích lịch sử - văn hóa, như ở làng Trung Đơn có Cổ Tháp, chùa Thiên Bảo tự, Đình làng, miếu thờ Thành Hoàng, miếu thờ Thần Nông, miếu thờ Ông Cọp cùng một số đền miếu thờ một số vị thần khác, miếu thờ và lăng mộ các ngài khai canh...[8]

Văn hoá dân gian là một dạng sinh hoạt văn hoá phổ biến, gắn bó với vùng đất và người dân quê Trung Đơn một cách tự nhiên và lâu đời bao gồm nhiều thể loại như chuyện kể, thành ngữ, tục ngữ, đồng dao, ca dao, thơ, hò, hát ru, lý, chầu văn, vè... phản ánh nhiều nội dung, khía cạnh khác nhau của cuộc sống nhưng tất cả luôn gắn liền với tâm tư, tình cảm, nếp nghĩ, cách sinh hoạt chất phác, bình dị, rất đời thường của con người ở đây... Tất cả tạo nên một bản sắc Trung Đơn rất riêng, hòa trong cái nôi văn hoá chung của Hải Thành, Hải Lăng, Quảng Trị khiến cho người dân quê dù sống và làm việc ở đâu, đi bất cứ nơi nào vẫn không nguôi nỗi nhớ làng quê da diết.

Một trong những truyền thống hết sức quý báu của vùng đất Hải Thành đó là truyền thống hiếu học. Phải khẳng định rằng, dù điều kiện kinh tế của quê hương xưa nay vẫn khó khăn nhưng thành tích trong giáo dục – đào tạo của Hải Thành thì không phải làng quê nào cũng sánh kịp. Có gia đình mời hẳn thầy về ăn ở trong nhà để dạy dỗ cho con cháu mình. Học và thi đạo “thánh hiền” thường là đặc quyền cho con trai những nhà khá giả, có chức phận trong làng quê, tuy vậy cũng có một số người xuất thân nghèo khó nhưng đã nổ lực để vươn lên trên con đường học để làm quan “Gia phả họ Lý ở Trung Đơn ghi từ đời thứ 7, 8, 9 đều có con cháu nhiều người đỗ đạt làm quan. Các chức Chánh phó tổng An Nhơn và lý trưởng xã cũng là người họ này. Các họ Hồ, Phan, Hoàng cũng có nhiều người được học hành thi cử, thông Nho, đỗ đạt làm quan phủ, huyện...[9]. Tư tưởng Nho giáo không chỉ ảnh hưởng đậm nét trong giáo dục – khoa cử mà còn ảnh hưởng đến nếp sống gia đình, gia tộc, họ hàng cũng như phong tục, tập quán của làng và mang tính hai mặt khá phức tạp.

Về tín ngưỡng, cùng chung mẫu số với biết bao làng quê Việt Nam, ở Hải Thành xưa nay nhân dân vẫn bảo lưu và phát triển các hoạt động văn hóa như thờ cúng tổ tiên, ông bà, các bậc tiền nhân; thờ cúng nhân các ngày tế lễ lớn trong năm như tết Nguyên đán, tết Nguyên tiêu, ngày rằm tháng Bảy hoặc một số ngày lễ liên quan đến hoạt động nông nghiệp… Chẳng hạn ở làng Trung Đơn có các cụ đồ Nho, có Văn Thánh thờ Khổng Tử nhưng cũng có chùa thờ Phật (Thiên Bảo tự), có am miếu thờ Thần Hoàng, Thổ Công và có các vị thần linh khác. Ngoài ra, cũng như bao làng xã khác ở Việt Nam, người Hải Thành rất coi trọng việc tế lễ và thờ cúng thần linh. Ở đây ngoài sự tôn kính và sợ hãi một Đấng siêu nhiên nào đó, dân làng còn cầu mong các thần linh phù hộ cho cuộc sống của họ gặp nhiều may mắn như được mùa, không ốm đau, bệnh tật và trường thọ, con cháu đỗ đạt vinh hiển... Như ở Trung Đơn, ngoài tế lễ đình rất lớn vào tháng 7 hàng năm và thờ phượng (phụng )những người có công lao với làng nước như Thành Hoàng, các Ngài khai khẩn, khai canh, dân làng còn lập nhiều miếu thờ như miếu Bà Hoả, miếu Bà Thuỷ, miếu Miễn Hoàng, miếu Cô Hồn... và các miếu thờ động vật có uy lực được xem như là các vị thần phù trợ như miếu Ông Cọp, miếu Ông Voi...[10] Trước năm 1972, khi miếu Ngài khai canh chưa bị chiến tranh tàn phá, vào ngày mồng 01 Tết hàng năm, hầu hết các gia đình ở thôn Trung Đơn đều mang lễ vật đến cúng mong Ngài phù trợ cho mùa màng tốt tươi.

Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào cho biết Phật giáo được du nhập vào Hải Thành từ lúc nào nhưng đây là một yếu tố văn hóa đã ảnh hưởng khá sâu đậm và không thể thiếu của một bộ phận nhân dân nơi đây. Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển, Phật giáo đã có những đóng góp nhất định đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, nhất là trên lĩnh vực văn hóa. Tính đến năm 2010, tổng số người tham gia sinh hoạt liên quan đến đạo Phật ở Hải Thành là 308 người. Đảng bộ và chính quyền địa phương cũng đã tạo điều kiện cho xây dựng 2 ngôi chùa khang trang cũng như các hoạt động của đạo Phật hàng năm.

Đạo Thiên chúa du nhập và Trung Đơn muộn và phát triển vào khoảng đầu thế kỷ XX. Tuy vậy, số tín đồ không đông và nhà thờ trước đây đã bị tàn phá nên các giáo hữu khi sinh hoạt nghi lễ phải đến các hạt lân cận. Nhìn chung, ở Trung Đơn không có sự kỳ thị hay xung đột tôn giáo bởi yếu tố gia đình, dòng họ, láng giềng, quê hương vẫn là yếu tố trội, tạo nên sự cố gắng kết trong cộng đồng

 

 

PHẦN THỨ HAI:

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ TRƯỜNG QUA TỪNG THỜI KÌ.

CHƯƠNG I:

1. Sơ lược về nhà trường:

LỊCH SỬ TRƯỜNG MẦM NON HẢI THÀNH

Trường mầm non Hải thành có 2 khu vực

  • Trường khu vực Trung Đơn có diện tích ………..khuôn viên trường có miếu Thần hoàng, có giếng làng , Đông giáp cánh đồng lúa , tây giáp ngôi chùa làng, bắc giáp Đồi tháp , nam giáp đường liên xã .
  • Trường khu vực Phước Điền có diện tích …….. ,đông giáp cánh đồng lúa, tây giáp cánh đồng lúa ,bắc giáp Đình làng Phước điền ,nam giáp trường mầm non Hải thành .

Trường Tiểu học Hải Thành hôm nay là một ngôi trường bề thế khang trang gồm dãy nhà hai tầng và dãy nhà cấp 4, tọa lạc trên khu đất rộng hình chữ nhật gần 1ha, trường dựa vào khu đồi thấp, mặt trường hướng về phía Nam. Khuôn viên trường rộng rãi, có hàng vú sữa lớn, có bồn hoa cây cảnh. Xung quanh trường có tường rào, có cổng trường cao đẹp. Đây là ngôi trường có tiền thân lâu đời nhất ở vùng Vĩnh Định và Duyên Hải. Ngôi trường này đã đào tạo biết bao thế hệ học sinh tiếp tục học lên đỗ đạt thành tài, có nhiều kĩ sư, bác sĩ, giáo viên, giáo sư và ngành nghề khác đã về hưu và đang công tác trên khắp các vùng đất nước và nước ngoài.

Quá trình hình thành và phát triển của trường Tiểu học Hải Thành qua nhiều giai đoạn.

Năm 1955 – 1963: thầy giáo Hoàng Văn Trâm được Ti Tiểu học Quảng Trị (chính quyền miền Nam) cử về làng Trung Đơn tổ chức công tác dạy học, cùng một số giáo viên khác như: Thầy Trường Quang Bật ( Hải Tân), thầy Hồ Khiêm… giảng dạy 3 lớp Năm, Tư, Ba (tên gọi trước đây, bây giờ là lớp một, hai, ba). Lúc này trường chưa xây dựng được cơ sở vật chất nên các lớp học được học tại nhà thờ họ Hoàng, nhà ông Ba (thân phụ ông Mĩ), nhà ông Nghè Hiêu ở xóm Nổ.

 

( hình ảnh nhà Ông Ba )

(Hình ảnh nhà Ông Nghè Hiêu)

Năm 1957, thầy giáo Hoàng Văn Trâm xin ngân sách của Ty Tiểu học Quảng Trị ( bây giờ là Sở GD&ĐT Quảng Trị) bước đầu xây dựng trường với sự đóng góp thêm của nhân dân trong làng, trường được xây 10 phòng, lợp tranh gồm 2 dãy như hiện nay.

 

(hình ảnh trường cách đây 35 năm

trường Trung đơn và trường phước điền

Năm học 1957 – 1958, trường có 10 lớp (mỗi khối 2 lớp) từ lớp Năm đến lớp Nhất (tên gọi trước đây). Trường được đặt tên là “Trường Cộng Đồng Dẫn Đạo Trung Đơn” (vì đây là 1 trong 5 trường điểm của tỉnh). Trong năm học này, ngoài học sinh của xã Hải Thành, còn có thêm một số học sinh của các xã lân cận đến học như xã Hải Quế, Hải Tân, Hải Vĩnh, Hải Thiện (vì các xã đó lúc đó chưa có trường Tiểu học mà chỉ có trường sơ cấp). Về giáo viên giảng dạy lúc này, phần lớn là giáo viên các tỉnh khác về công tác như thầy Kim, thầy Kiêm (ở Bình Định), thầy Khác, thầy Huồn (ở Huế), thầy Nghiêm…

 

(Hình ảnh khu tháp chàm)

Chùa làng , miếu thần hoàng, giếng nước, cây hoa giấy,cây thị)

 

Trong năm học này, trường mới xây dựng trên khu đất hoang hóa, cây cối um tùm, thầy và trò ngoài việc dạy và học ra còn lao động để cải tọa khuôn viên trường (vì học sinh lúc đó người lớn tuổi nhất cũng 20 tuổi). Học sinh lớp Ba, Nhì, Nhất chiều nào cũng mạng cuốc xẻng đi lao động; bới gốc cây, đào hào, phát cỏ. Trong các năm học tiếp theo, công tác lao động vẫn tiếp tục, thầy trò cùng nhau trồng cây bóng mát, cây ăn quả như dứa, cam, chuối, bưởi, ổi…(do sự chỉ đạo của thầy Hiệu trưởng). Ngoài ra có xây giếng, làm hàng rào bằng hóp cất rất đẹp. Các năm học sau, giáo viên được bổ sung, phần lớn là giáo viên tốt nghiệp các trường sư phạm tiểu học như Đập Đá, Long An, như thầy Thường (Quảng Ngãi), thầy Diều, thầy Tri, thầy Quy, cô Lạng, thầy Bài, thầy Huấn, thầy Tuấn, cô Lịch, cô Lân (đều người Huế), cô Xuân (Hải Chánh), thầy Ngật, thầy Thắng (Hải Thành)…

Trong khoảng năm 1961 – 1962, thầy Hoàng Văn Trâm tiếp tục xin kinh phí của Ti để xây dựng lại trường kiên cố hơn gồm 2 dãy nhà cao ráo, phòng rộng rãi (8m x 10m), có đĩa rát đỏ bằng bê tông cốt thép trông rất bề thế. Vườn trường được nâng cấp, giữa hai dãy trường là sân chơi và là nơi tập thể dục, có trụ cờ, có cây bông giấy rất đẹp, có xây dựng phòng tắm có phương tiện tập thể dục thể thao: sân bóng chuyền, xà đơn, xà kép, đu là leo dây. Tất cả các thứ này ở về phía Tây của trường.

Năm 1963 – 1972 Thầy Thường làm hiệu trưởng (Quãng Ngãi). Sau đó, thầy Thường về quê, thầy Diệu ở Huế lên làm hiệu trưởng. Tiếp theo là thầy Lê Văn Bương làm hiệu trưởng.

 

Hình ảnh minh hoạ chiến tranh

 

Trong giai đoạn từ 1965 đến 1972, chiến tranh chống Mĩ các ngày càng khốc liệt, việc dạy và học của trường có phần hạn chế nhưng vẫn duy trì đều đặn, giáo viên trong thời gian này có sự biến động kẻ ở người đi, trường có bổ sung thêm: cô Thanh (Hải Thọ), cô Ba (Hải Vĩnh), thầy Khoái (Hải Thiện), cô Bưởi (Hải Thiện), cô Bướm, thầy Tiêu (Hải Thành), cô Hồng (Hải Thành).

Đến mùa xuân 1972, quân và dân ta tấn công đánh chiếm nhiều nơi, nhân dân Hải Thành một số di dân ra phía Bắc tạm cư tại Cam Lộ, một phần di tản vào phía Nam và tạm trú tại Huế, Đà Nẵng. Cả hai nơi đó đều có mở lớp học cho con em trong xã.

 

Tư liệu giáo viên và hình ảnh

 

Năm 1973 Thầy Đặng bá Khoái làm hiệu trưởng .

số dân di tản vào phía Nam trở về quê sinh sống, trường tiếp tục sinh hoạt. Lúc này, thầy Đặng Bá Khoái (Hải Thiện) làm hiệu trưởng, thầy Bương ở lại công tác tại Đà Nẵng.

Năng 1975, sau quê hương hoàn toàn giải phóng, nhân dân tiếp tục về làng, việc dạy và học được lập lại.

Năm học 1975 – 1976 cũng trên ngôi trường này được hình thành hai trường: trường Cấp 1 Hải Thành do cô Phạm Thị Kim Khuy làm hiệu trưởng, sau đó là cô Lộc (Quảng Bình) và trường Cấp 2 Hải Thành do thầy Trần Lê Đê làm hiệu trưởng. Học sinh cấp 1 bấy giờ khoảng 12 lớp, có 1 lớp của Hải Quế, các giáo viên giảng dạy như thầy Phê, thầy Ngân, thầy Đình, thầy Ẩn, cô Xế, cô Xoa, cô Cân, cô Bướm (Hải Thành) và một số giáo viên chi viện: thầy Khải, thầy Song, cô Hòa, cô Phan Thị Thanh….

Năm 1980, trường cấp 1 cấp 2 lại nhập thành 1, gọi là trường cấp 1, 2 Hải Thành, có một số giáo viên bổ sung cho tiểu học: thầy Quý ở Huế, thầy Xuân, cô Út, cô Hồng (Huế), thầy Khang….

Giai đoạn này, thầy Trần Lê Đê làm hiệu trưởng, thầy Khải làm hiệu phó. Về cơ sở vật chất, trường được xây dựng thêm hai phòng cấp 4 ở phía Đông gần Miếu Thần Thành Hoàng.

Một vài năm sau, thầy Trần Lê Đê được đổi ra quê Hải Hưng, thầy Tuấn lên làm hiệu trưởng, sau đó thầy Tuấn đổi ra Triệu Tài, thầy Dương Luyến (Huế) lên làm hiệu trưởng, thầy Luyến được đổi vào Huế, thầy Phan Du (Hải Thọ) lên làm hiệu trưởng được một thời gian thầy Du đổi lên Hải Thọ, thầy Trần Đức Ninh lên thay, lúc này giáo viên cũng có nhiều biến động, giáo viên đi B ra hết còn một số giáo viên gốc Quảng Bình như cô Thuyết, cô Duyên, thầy Hùng, cô Ý ở lại.

Hình ảnh quyết định thành lập trường

 

Đến năm 1993 - trường lại được tách ra 2 trường: trường Tiểu học Hải Thành theo quyết định số 299/TCB UBND Tỉnh Quảng trị ký ngày 3/8/1993

Năm 1993 - 2002 thầy Hồ Đăng Phê làm hiệu trưởng, trường PTCS tất cả học sinh lên đều lên nhập tại trường PTCS Hải Thiện cho đến bây giờ.

Trong thời gian này, cho đến năm 2002, số giáo viên gồm: thầy Hùng, cô Ý, cô Thuyết, cô Duyên, thầy Bính, cô Tuyết, cô Hắng, cô Hương, cô Linh….Học sinh gồm 12 lớp (kể cả 1 lớp Hải Quế). Về cơ sở vật chất, trường tiếp tục cải tạo khuôn viên trường. Năm học 1999 – 2000, được sự tài trợ của Nhà nước, trường được xây dựng mới khu vực nhà 2 tầng gồm 8 phòng học và nâng cấp thêm các phòng cấp 4. Năm 2001, được sự tài trợ của phòng GD, trường xây thêm cổng trường bằng bê tông cốt thép cao ráo đẹp đẽ, làm sân trường, rào thép gai xung quanh trường và xây công trình phụ to, rộng.

Hình ảnh trường hiện tại

 

Năm 2002 – 2008 thầy Nguyễn Văn Bê (người Hải Thọ) về làm hiệu trưởng. Trong giai đoạn này, giáo viên có một số biến động, học sinh có phần giảm sút (do chương trình kế hoạch hóa gia đình). Về cơ sở vật chất, xây dựng thêm la thành và công trình phụ thứ hai ở phía Tây do chương trình tầm nhìn tài trợ.

Trường được công nhận đơi vị văn hoá năm học

Trường được công nhận trường chuẩn quốc gia giai đoạn 1.

Năm 2008 – đến nay thầy Phạm Quý Bé (hiệu trưởng trường Tiểu học Hải Trường, quê ở Hải Thọ) về làm hiệu trưởng. Trong thời gian này giáo viên cũng có một số biến động, học sinh cũng như các năm học trước.

Về cơ sở vật chất

Xây dựng 2 phòng học và 1 phòng nghỉ cho GV nhà vệ sinh quy hoạch khuôn viên sân chơi bải tập trường Phước Điền trị giá 900 triệu đồng .

xây dựng thêm hòn non bộ, sân bóng đá ,xây dựng 2 phòng học trị giá trên 700 triệu đồng,Quy hoạch khuôn viên sân chơi bãi tập bồn hoa cây cảnh được tăng cường ở khu vực Trung Đơn. Xây dựng phòng tin học trang bị các máy vi tính phục vụ cho học sinh tiếp cận mạng internet hội nhập với thế giới .Xây dưng trường chuẩn quốc gia mức độ 1 (được công nhận lai theo quyết định của UBND tỉnh ký ngày ……. . Trường được công nhận trường học thân thiện học sinh tích cực do Sở GD& ĐT ký ngày ……

 

 

 

[2] Dương Văn An (2009, Nguyễn Khắc Thuần dịch), Ô châu cận lục, Nxb Văn hoá Á châu, tr. 43.

[3] Vùng đất 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay (từ dãy Hoàng Sơn phía Nam đến giáp dãy Hải Vân phía Bắc).

[4] Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Viện Sử học dịch, Nxb Văn hóa Thông tin.

[5] Nhiều tác giả (2007), Làng Trung Đơn – Những vấn đề lịch sửvăn hóa, bản đánh máy, tr.11.

[6] Ủy ban Nhân dân xã Hải Thành (1987), Lịch sử xã Hải Thành, huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên (bản đánh máy), tr.14-15.

[7] Ủy ban nhân dân xã Hải Thành (1987), Lịch sử xã Hải Thành, huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên, TlđTlđd, tr.16-17.

[8] Nhiều tác giả (2007), Làng Trung Đơn – Những vấn đề lịch sửvăn hóa, TlđTlđd, tr.22.

[9] Ủy ban nhân dân xã Hải Thành (1987), Lịch sử xã Hải Thành, huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên, TlđTlđd, tr.35-36.

[10] Nhiều tác giả (2007), Làng Trung Đơn – Những vấn đề lịch sửvăn hóa, Tlđd, tr.25.